Kara no kyoukai - Ranh gi...
Nasu Kinoko Takeshi Takeuchi
  • Bạn phải đăng nhập để sử dụng bookmark
Tùy chỉnh

Quyển 7: Điều tra án mạng lần hai

Chương 2 - Phần 1

0 Bình luận - Độ dài: 5,079 từ - Cập nhật:

–       Tháng Năm. –

–       Tôi phải viết thêm về nàng –

–        Mỗi lần ngắm nhìn nàng, tôi như mụ mị đi, chỉ muốn hớp lấy hớp để hình ảnh nàng. Chỉ cần thoáng thấy nàng, ngón tay tôi tê dại còn lồng ngực như ngừng thở. Tôi sẽ chết mất nếu cứ thế này chăng? Nàng xâm nhập vào tâm trí tôi như thể vi-rút. Sự hiện diện của nàng xâm lược mọi ngõ ngách trong cuộc sống của tôi. Sâu thẳm trong tôi chỉ có nàng, người con gái cùng trường cấp ba rất mực hoàn mỹ ấy. Tôi nghĩ mình đã yêu. Tôi chưa từng một lần trò chuyện hay hân hạnh được nghe giọng nói của nàng. Cảm giác trống rỗng hoang hoải ấy ngày một đè nặng lên tôi, nặng, nặng đến đáng sợ.

Mùng 9 tháng 2.

Trời ngừng mưa từ tối hôm qua và thành phố đang chào mừng ánh nắng trở lại, dẫu phải thấm qua màn mây xam xám mà trận mưa để lại như một món quà chia tay. Tôi thức muộn đến tận khuya hôm trước do mải đi lùng sục chứng cứ tại hiện trường. Do quá mệt, tôi không về nhà mà tạt qua gần đó, chỗ Gakuto, một người bạn cũ hồi cấp ba. May là cậu ta rất nhiệt tình cho tôi ngủ nhờ. Giờ, dù buồn ngủ chết được, nhưng có vẻ tôi không bỏ được thói quen dậy sớm. Chẳng biết làm gì, tôi đành ngó ra ngoài cửa sổ, ngắm bình minh chậm chạm rải nắng lên phần còn lại của thành phố.

“Dậy sớm quá ha? Chắc tính chuẩn bị bữa sáng cho tớ hả?” Gakuto vừa dậy, lấy tay dụi dụi mắt. Tất nhiên tôi sẽ từ chối thẳng thừng.

“Nằm đấy mà mơ đi ông tướng. Trong tủ lạnh có mỗi bia thôi. Tớ đâu thể hóa phép ra đồ ăn.”

“Ồ, cậu vẫn tinh như ngày nào, Mikiya. Giờ thì sang đập cửa nhà hàng xóm và hỏi xem họ có cái quái gì để ăn đê.” Cậu ta ngáp một cái rõ to. Cậu ta ngồi dậy, gãi gãi đầu, quay qua nhìn tôi một lúc, vẻ rất chi là thất vọng. Kế đó, trong cơn ngái ngủ, cậu ta loạng choạng đi ra cửa, trước khi chậm chạp quay lại nhìn tôi một lần nữa, và trố mắt ra như nhìn thấy ma.

“Có biết là lúc này mặt cậu nhợt nhạt thế nào không?” Cậu ta hỏi tôi. “Có chắc là cậu thấy ổn không?” Cau mày, tôi ngó vào gương. Cậu ta nói đúng phóc. Mặt tôi đang tái nhợt như búp bê.

“Đừng lo. Một lát là hết thôi. A-xít chỉ có tác dụng từ bốn đến sáu tiếng. Có thể gặp ảo giác hoặc vài rối loạn cảm giác ngẫu nhiên. Cũng hay đấy chứ.”

“Một ngày nào đó, sự tò mò sẽ khiến cậu tiêu đời nhà ma đấy.”

“Chưa đâu.”

“Từ từ, sẽ có lúc.” Cậu ta cười. “Vậy là cậu hiếu kỳ đến mức dám thử mấy món mà gần đây người ta đang bí mật truyền tay nhau hả?” Cậu ta vừa hỏi vừa ngó phần cữ còn lại của tôi tối qua. Vương vãi trên bàn là vài miếng tem và cuộn cỏ vẫn chưa dùng đến. Tôi gật đầu.

“Cỏ thì cậu có thể ném đi. A-xít thì, hừm, tớ thử xong rồi, cậu giữ lại dùng cũng được. Nó không gây nghiện, nếu cậu muốn biết, và chắc chắn nó thú vị hơn mấy lời chống chế vụng về ở công viên giải trí đấy.” Tôi choàng vội chiếc áo khoác bị quăng lên giường tối qua. Mới bảy giờ sáng, thành phố mới bắt đầu những hơi thở đầu tiên. Tôi không còn thời gian để ung dung nữa.

“Đã về rồi à? Ở lại một lát đã. Cậu đứng còn chưa vững, nói gì là đi.” Gakuto nói.

“Chịu thôi. Còn nhiều việc lắm.” Tôi trả lời, ngạc nhiên khi thấy giọng mình yếu và khàn đến vậy.

“Thật à? Việc gì thế?”

Tôi chỉ vào vô tuyến. “Tớ vừa xem bản tin lúc 6 giờ sáng. Có vẻ vào tối qua, đằng sau khách sạn tình yêu Pavillion –”

“Thằng khốn mà mấy ông quan chức đang treo giá cao ngất ngưởng chứ gì.” Gakuto cắt ngang.

“Chính hắn. Hình như tên quái vật sát nhân đã ra tay ở con hẻm đằng sau. Lần này thì khác. Bản tin nói bốn người được tìm thấy ở hiện trường.”

Gakuto ậm ừ vẻ tò mò, rồi bật vô tuyến lên. Quả nhiên, ti vi vẫn đang chiếu bản tin sáng, lâu hơn thường lệ một chút. Nội dung không có gì mới. Lại là tên quái vật sát nhân, còn nạn nhân thì như tôi vừa bảo Gakuto. Có một điểm hay ho mới trong bản tin cậu ấy đang xem, đó là –

“Kẻ tình nghi mặc kimono? Cậu nghĩ sao về chuyện đó?” Gakuto hỏi, mắt vẫn dán chặt vào màn hình. Tôi lắc đầu, bỏ mặc câu hỏi trong lúc bước về phía cửa ra vào. Dù đã khá hơn một giờ trước, tôi vẫn hơi run khi xỏ chân vào giày. Gakuto cũng đi ra cửa để chào tạm biệt. Cầm hai loại ma túy tôi bỏ lại trên bàn, cậu ta hỏi.

“Cảm giác chơi cả hai loại một lúc thế nào?”

“Không thể coi đó là một sự lựa chọn sáng suốt. Chỉ thấy giống Hansel và Gretel (1).” Nói xong, tôi đứng dậy, mở cửa và vẫy tay về phía sau trước khi rời căn hộ. Tôi còn không ngoái lại nhìn xem cậu ta có vẫy tay chào lại không.

Chỉ khi bước ra ngoài ánh sáng mặt trời và đóng cửa lại, tôi mới bắt đầu thấm thía cái đói. Tôi chưa ăn gì suốt một ngày trời. Số cỏ trong bụng càng khiến tình hình thêm tồi tệ.

Đi từ chỗ Gakuto đến hiện trường án mạng được đăng trên bản tin sáng nay mất ngót một tiếng đồng hồ. Mọi thứ vẫn nguyên trạng khi tôi tới. Cảnh sát trong trang phục màu xanh da trời đang kiểm soát chặt xung quanh và không cho ai lại gần. Tất nhiên, những kẻ hiếu kỳ cũng ở đó, cố gắng hóng hớt tin tức từ sự kiện bất thường này. Giữa chỗ bọn họ và lối vào chỗ giao liên của hẻm, hiện đang bị cảnh sát khóa chặt, tôi không thấy điều gì có ích cả.

Tôi nghĩ đến việc tạt qua khách sạn tình yêu Pavilion gần đó, nhưng thấy phí thời gian nên lại thôi. Chẳng có tiếp tân để dò hỏi, và chẳng nhân viên nào muốn nói chuyện với tôi. Và còn lâu họ mới cho tôi xem phim ghi lại từ máy quay an ninh. Dù sao chăng nữa, nếu Shiki từng ghé qua đó, giờ cô ấy đã đi rồi. Tôi quyết định tiếp cận vấn đề từ một góc độ khác.

Tôi từng liên lạc với một đầu mối bán lẻ ma túy quanh khu vực này trong lúc tìm kiếm một người bạn của Gakuto hồi tháng Bảy, và tôi đã lần ra nơi ẩn náu của cậu ta là chỗ của kẻ này. Số điện thoại là thông tin duy nhất tôi có được từ lần tiếp xúc đó, nhưng tôi đã nói chuyện trực tiếp với cô ta, vậy là đủ. Tôi tìm một bốt điện thoại gần đó và gọi cho cô ta, nói rằng muốn gặp mặt để trao đổi thông tin mới. Sau vài giây im lặng, người ở đầu dây bên kia mới đồng ý.     

Rời khỏi khu thương mại, xa ồn ã nơi trung tâm thành phố, tôi đi tới điểm hẹn. Các tòa nhà cũ kỹ xây túm tụm với nhau, được quy hoạch nghèo nàn, như một tàn tích bị bỏ lại của nền kinh tế phát triển. Khu căn hộ tôi đặt chân đến rất cũ và tồi tàn, bụi bẩn nhiều năm bám dính trên tường càng khiến nó trông tăm tối hơn. Hẳn nơi này đã bị bỏ hoang từ lâu, cổng vào đã bị bít kín bằng ván. Vì vậy, để lên tầng hai, tôi cần tìm cầu thang thoát hiểm. Tôi nhanh chóng tìm thấy một cái, dù bị thiếu vài bậc và khá rỉ sét. Tôi bước lên cầu thang, cẩn thận để tránh bước nhầm vào chỗ sắp bục. Cửa dẫn vào hành lang tầng hai không khóa, tôi đi qua, nhanh chóng tìm được căn phòng đã hẹn và gõ cửa.

Tôi nghe tiếng bước chân và thấy bóng người di chuyển nhờ ánh sáng mờ mờ dưới cửa. Vài giây sau, cánh cửa gỗ nhè nhẹ mở, một người phụ nữ với mái tóc đen dài ló mặt ra. Thoáng nhìn trông cô ta hơn tôi vài tuổi. Cô ta nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi cười cười mở hẳn cửa ra. Cô ta ăn mặc giản dị, chỉ mỗi chiếc áo khoác mùa đông màu đỏ là nổi bật.

“Tôi là người vừa gọi cô sáng nay –”

“Biết rồi, biết rồi. Mong là không có người theo dõi cậu. Tôi không muốn ai biết có người sống ở đây. Vào nhanh lên.” Đột nhiên, cô ta nắm lấy tay tôi và kéo mạnh vào trong. Loạng choạng một lát, tôi mới để ý căn phòng thật bừa bộn. Vương vãi trên sàn là quần áo, tạp chí, và đủ thứ hầm bà lằng khác. Giữa sàn là một chiếc kotatsu (2). Người phụ nữ nhanh chóng ngồi xuống, đút chân vào dưới kotatsu. Cô ta nhìn tôi vẻ thiếu kiên nhẫn, hất đầu ra hiệu cho tôi ngồi xuống bên cạnh. Tôi ngập ngừng ngồi xuống phía đối diện. Chiếc kotatsu chẳng hề ấm tí nào, rồi tôi để ý nó không có dây cắm điện. Chắc tại quanh đây không có điện.

“Ra là cậu trông thế này.” Chị ta cao giọng, chống cằm lên bàn, nghiêng đầu nhìn tôi vẻ lúng túng. “Cứ nghĩ cậu khác nhiều đấy.”

Dù muốn trả lời mình cũng nghĩ về cô ta như thế, tôi quyết định kìm lại. Cô ta hành động khác xa với hai màn đàm thoại cộc lốc lúc trước. Tôi không rõ cô ta lúc bán hàng thì thế nào, nhưng –

“Ồ, dễ thôi.  Ai thèm quan tâm cậu là nam hay nữ, miễn có hàng là được.”

“Ờ…ừm… tôi cũng nghĩ thế.” Tôi lắp bắp. “Mà sao cô…”

Cô ta tủm tỉm cười. “Cậu thật dễ đoán, nhìn mặt là biết ngay. Nghe giọng cậu qua điện thoại, tôi thề trông cậu sẽ rất khó gần. Hóa ra lại là thư sinh bốn mắt, trông như suốt ngày chỉ biết học. Rốt cục, võ đoán cũng chẳng có lợi lộc gì. Giờ cậu muốn hỏi gì nào?”

Cô ta nháy mắt, rồi nheo mắt lại. Ngay khoảnh khắc đó, dù không cử động, nhưng tôi cảm thấy có sự thay đổi trong cách cô ta hành xử, giống như một công tắc nào đó vừa được bật trong đầu cô ta vậy. Cố lờ đi cảm giác ấy, tôi nuốt nước bọt, vào thẳng câu hỏi đầu tiên.

“Chắc tôi sẽ bắt đầu với việc xảy ra tối qua. Cô có nghe ngóng được gì về nhân chứng của việc tên quái vật sát nhân gây ra không?”

“Ý cậu là đứa con gái hoang dại mặc kimono cùng với áo khoác da ấy à?”  Cô ta hỏi. Bị hỏi bất ngờ, không kịp phòng bị, tôi lảng vội ánh nhìn ra chỗ khác. Nếu là người sắc sảo, hẳn cô ta sẽ để ý ngay. Cô ta nói tiếp. “Cần gì hỏi ai. Tôi chứng kiến sự việc từ đầu đến cuối. Xem nào… tầm 3 giờ sáng hôm qua thì phải? Trời vẫn mưa hoài không dứt. Chốn này khá đáng sợ trong những đêm mưa, nhưng dạo này làm ăn chán lắm. Với lại, khách sạn tình yêu đó là khách quen. Bọn họ mua hàng của tôi suốt. Đang trên đường đi giao hàng, băng qua đầu hẻm thì tôi nhìn thấy bọn chúng. Bốn gã thanh niên đang vây cướp một cô gái mặc kimono. Thật đáng xấu hổ.”

Trong lúc hồi tưởng, ánh mắt cô ta khi thì tươi tỉnh, khi thì đăm chiêu. Một lát sau, tôi lại nhìn thẳng vào mắt chị ta và hỏi tiếp. “Vô tuyến đưa tin giới tính của kẻ tình nghi chưa được xác định. Sao cô biết đó là nữ?”

“Biết chứ sao không. Làm sao nhầm được cơ thể một cô gái chứ ? Dù lúc đó, trời khá tối.” Trán cô ta nhăn lại, như thể đang ra sức nhớ, và chợt cô ta hỏi. “Khoan đã, cậu biết cô ta?” Cô ta ngẩng đầu lên và nhìn thẳng vào tôi. Tôi cắn môi, không trả lời. “Tốt thôi. Chẳng liên quan gì đến tôi. Tôi mong đây là một cuộc trao đổi thông tin sòng phẳng, không phải chỉ tôi cho và cậu nhận, hiểu chứ ? Muốn nghe lời khuyên không ? Tránh xa cô ta ra như tránh hủi. Cô ta không bình thường chút nào. Tôi đã đánh bạn với nhiều kẻ nguy hiểm suốt quãng thời gian bán ma túy, và tôi hiểu thế nào là điên loạn. Tôi cũng chơi với nhiều con nghiện, nhưng khá an toàn miễn cậu không hành xử khốn nạn. Nhưng tôi thực sự sợ những kẻ như cô ta.”

“Cô ta quá khác biệt. Bị bốn gã thanh niên bao vây, nhưng cô ta vẫn ung dung. Cô ta dùng dao, đúng không ? Cô ta vừa nhảy nhót như một vũ công ba-lê, vừa đâm vào người chúng, nhưng cố tình không gây trọng thương. Nhưng chắc chắn không phải để ngăn không cho chúng tử vong, mà như thể cô ta muốn giữ chúng sống để tiếp tục đâm, hết lần này đến lần khác, như đang tận hưởng niềm phấn khích khôn tả. Dần dần, mấy tên nghiện thấm mệt, hoặc không chịu đau được hơn nữa, bắt đầu bỏ chạy. Chẳng ích gì. Cô ta nhanh hơn. Cô ta nhảy lên và đâm một nhát chí mạng vào lưng, ba kẻ chết ngay tại chỗ. Còn vì sao cô ta đợi đến lúc đó mới kết liễu chúng thì chịu.

Tình cảnh của tên thứ tư bị cô ta dồn đuổi mới thật thảm hại. Hắn dập đầu xuống đất, khóc lóc van xin tha mạng, nhưng cô ta chẳng phí lấy một giây, cắm dao xuyên thẳng xuống cổ hắn. Thế rồi, cô ta cứ đứng ngây ra giữa bãi thảm sát đó một lúc lâu. Tôi thấy mắt cô ta phát sáng giữa đêm tối, ánh màu xanh nước biển đậm. Thề là tôi chưa thấy thứ ấy bao giờ. Tôi chỉ chực hét lên, nhưng không thể. Giờ nghĩ lại, vậy lại hóa may. Hẳn cô ta sẽ đuổi cùng giết tận tôi như bốn gã kia nếu nghe thấy.”

Cô ta kể chuyện mà không hề khoa tay múa chân, chỉ dán chặt mắt vào tôi từ đầu đến cuối. Tôi cho rằng cô ta không nói dối.

“Có vài điều làm tôi băn khoăn.” Tôi mở miệng sau đúng năm giây yên lặng. “Cô nói mình trốn ở góc đường, chỗ hẻm cắt vỉa hè, nơi chỉ nhìn thấy bóng người. Sao cô biết vết thương không sâu? Và tình trạng các xác chết?”

Cô ta cười đáp. “Cậu nói đúng. Tôi không có bằng chứng chắc chắn, và tôi không chắc mình đứng đủ gần để nhìn tận mắt các vết cắt. Đó là do trực giác mách bảo và suy luận lô-gíc. Vì thế, tôi không trình báo cảnh sát. Nhưng nếu cậu muốn tìm nhân chứng chỗ khác, thì cứ việc.”

“Vậy có thể nói rằng cô không thực sự biết giới tính của nghi phạm.”

Cô ta nhún vai chán nản. “Cậu nói sao cũng được, sếp ạ. Đã bảo rồi, tôi nhìn là biết. Tôi có thể khẳng định cô ta mặc gì, một chiếc kimono, như vô tuyến đưa tin, với một chiếc vét khoác ngoài, không có ống tay áo. Thực tế, nếu kimono thiếu tay áo sẽ trông giống một chiếc váy. Hài hước đấy chứ?”

“Phải,” Tôi lẩm bẩm theo quán tính, “rất hài hước.” Có điều gì không hợp lý ở đây. Mọi chuyện có vẻ được lên kế hoạch chu đáo. Trước tiên, nạn nhân bị giết theo cùng cách thức gây án, gợi người dân thành phố nhớ về vụ việc ba năm trước. Tần suất hoạt động của tên quái vật sát nhân tăng lên ngay sau vụ đó bị phát giác, khiến cả thành phố chao đảo. Kế đó, nhân dạng của hắn được tiết lộ một phần. Tất cả đều có trật tự, liên kết với nhau. Gần như…

“…một trò chơi, phải không?” Người phụ nữ nghiêng đầu chán nản. Tôi nhướn mắt nhìn cô ta, còn cô ta đáp trả bằng một nụ cười gian xảo trong lúc áp đầu xuống mặt bàn. “Xong chưa ? Không còn gì nhiều để kể về tối qua đâu.”

Tôi không đáp. Tôi vẫn muốn hỏi thêm. Tôi tự nhắc đi nhắc lại trong đầu rằng chỗ cô ta đứng tối thế nào, khó nhìn thế nào trong cơn mưa lớn như vậy. Tôi cứ nghĩ rằng việc cô ta nhìn thấy một chiếc kimono là sai. Trong thâm tâm, tôi luôn tự nhủ đó không phải là Shiki. Nhưng chuyện vừa nghe đang ám chỉ điều tồi tệ nhất. Hệt như ba năm trước. Tôi phải tiếp tục tin, khi chưa nhìn thấy tận mắt.

“Phải, tôi nghĩ chuyện tối qua thế là đủ.” Tôi nói, vừa với cô ta, vừa với chính mình. “Dù vậy, tôi vẫn còn vài thắc mắc. Có thể câu này hơi lạ, nhưng đây là lần đầu án mạng có nhân chứng, đúng không ? Đặc biệt từ tuần trước, mỗi ngày có một người chết, và án mạng không nhất thiết xảy ra ở nơi hẻo lánh. Không như ba năm trước, các vụ giết người giờ đều diễn ra trong thành phố, thật lạ khi chưa có ai từng chứng kiến sự việc, hoặc trông thấy kẻ kỳ lạ nào lảng vảng xung quanh.”

“Ừm, cậu nói tôi mới để ý. Nhưng nếu cậu hỏi liệu có ai tôi quen cũng chứng kiến cảnh tương tự, tôi đoán là không. Hầu hết thi thể xuất hiện ở chỗ chúng tôi không hay qua lại. Bên cạnh đó, một luật bất thành văn là người bán ma túy và con nghiện không thích nói chuyện với cảnh sát. Và nếu cậu định nói về những kẻ kỳ lạ lang thang quanh đây, thử nhìn những người như chúng tôi xem? Trong thành phố, chúng tôi đã bị coi là kỳ lạ rồi. Và những người mặc kimono sẽ không thèm lại gần, nếu cậu hiểu ý tôi. Bây giờ, mấy người còn mặc kimono nữa? Mấy bà quản gia nhiều tiền, hay đại loại thế, đúng chứ? Có lạ không khi thấy họ tiếp cận chúng tôi để mua ma túy, hả?” Cô ta lặp đi lặp lại từ “kỳ lạ” với một giọng thầm thì, như đang trao đổi một loại mã hiệu nào đó với chiếc bàn.

“Dù sao đi nữa, cô vẫn là người đầu tiên chứng kiến toàn bộ sự việc. Ý tôi là vụ án mạng. Cô không thấy lạ sao, dù chỉ một chút?”

Cô ta gãi đầu, lộ rõ vẻ khó chịu. “Thế thì sao? Không có nhân chứng là không có, vậy thôi.”

“Nhưng nếu không ai chứng kiến, giống như án mạng trong phòng kín, thì chẳng có nghĩa lý gì cả.”

“Khoan khoan, ồ, cái gì cơ? Xin lỗi, tôi hơi chậm hiểu, thưa quý cậu thư sinh, nếu vậy, cậu phải nghĩ thoáng cho tôi chứ? Là sát nhân trong phòng kín chẳng phải tốt sao? Cảnh sát không bao giờ tìm thấy xác và cậu sẽ không bị tóm.”

“Vậy đó không phải kiểu giết người mà kẻ ta đang tình nghi muốn. Nếu biết có người ngoài biết chuyện đang xảy ra trong phòng, tội ác sẽ không được thực thi. Thực tế, một sát nhân phòng kín muốn càng ít người biết càng tốt. Đây là điểm mấu chốt của vấn đề. Nếu không có cách nào vào được trong phòng, án mạng bắt đầu giống một vụ tự tử. Khi người ta bàn đến khả năng giết người, kẻ tình nghi sẽ thuyết phục rằng có kẻ đột nhập vào phòng là sai. Điều cuối cùng ta xét đến mới là có kẻ gây ra án mạng. Nhưng tên quái vật sát nhân này muốn bị phát hiện. Thử nhìn lại những nơi hắn chọn: công khai, nhiều người qua lại, ở những nơi sầm uất trong thành phố, chẳng giống một phòng kín. Vậy mà đến giờ vẫn chẳng có nhân chứng.”

Người phụ nữ gục gặc đầu, hừ giọng. “Nhưng cậu có nhân chứng rồi đấy. Chính tôi.”

“Tôi biết. Nhưng nếu tên quái vật sát nhân thích thể hiện, thì nhân chứng đã xuất hiện từ lâu rồi.” Giả thuyết này, dù còn sơ khai, nhưng tôi vẫn phải nói. Nếu cứ bàn tiếp, thì chuyện tiếp theo đơn giản thôi. Việc tồn tại một nhân chứng tối qua là chuyện lạ. Có thể đây là chuyện tình cờ, không do bàn tay sắp đặt chu đáo của tên sát nhân.

“Tôi nghĩ mình bắt đầu hiểu rồi.” Cô ta gật gù. “Cậu nghĩ rằng việc thiếu nhân chứng trong các vụ án mạng khác là có lý do riêng. Tôi trở thành nhân chứng là do hắn đã phạm sai lầm ở đâu đó.” Cô ta uể oải khoanh tay lại, trán nhăn lại như đang phân tích điều tôi vừa nói. “Khá thông minh đấy, chàng thư sinh ạ, dù cậu xứng với cặp kính khá khẩm hơn. Vậy những suy nghĩ đang lừa phỉnh chính cậu lấy ở đâu ra thế?”

“Tôi… chưa rõ.” Tôi ngập ngừng. Bực thật, tôi cố nghĩ xem còn gì để nói nữa. Giả thuyết của tôi… mới chỉ dừng ở đó. Đang nheo mắt nhìn tôi, cô ta bỗng phá ra cười.

“Ồ, im rồi phải không? Tôi đoán bọn cậu hẳn có lý do riêng. Của cậu là gì nhỉ? Cố chứng minh đứa con gái đó vô tội chăng?”

“Còn nhiều thứ phải chứng minh trước khi làm chuyện đó. Như loại cốc-tai mới đang thịnh hành gần đây. Cô có thông tin gì không?”

“Ồ, cuối cùng cũng đến chủ đề này.” Cô ta liếc xéo tôi một cái, ánh mắt bỗng trở nên dữ dằn và tinh quái, và không khí trong phòng cũng như thay đổi theo. “Tôi đoán nó là hỗn hợp a-xít và cỏ mà cậu đề cập. Hỗn hợp đó thường được gọi là ‘thủ ấn’ (3) , nhưng không phải như loại cốc-tai đang lưu hành bây giờ. Không giống chút nào luôn. Loại đó quá mạnh anh bạn trẻ ạ. Một giọt là phê ngay lập tức. Dùng nó hàng ngày thì chết lúc nào không biết. Tôi không biết làm thế nào để thiên hạ thôi dùng nó cả.”

“Đến mức đó sao ? Tôi đã từng thử LSD và cần sa, nhưng chỉ buồn nôn và đói bụng, sau đó hạ xuống mức mà tôi mong đợi.”

“Ăn chơi mà không có tí kiến thức cơ bản nào về ma túy à?” Cô ta chép miệng trước khi nói tiếp. “Chẳng phải ý gì hay ho. Được, để tôi dạy cho cậu, chàng thư sinh ạ. Mỗi người có khả năng đề kháng riêng với ma túy. Nếu yếu, cậu sẽ tiêu càng ngày càng nhiều, cho đến khi cháy túi. Cậu không thế, phải chứ? Tiếp theo là sự lệ thuộc. Liên quan đến cả khía cạnh thể chất và tinh thần, nhưng nói đơn giản, là cậu sẽ khổ sở đến mức nào khi không được chơi cữ như thường lệ. Cảm giác đó càng mạnh, cậu càng dùng ma túy thường xuyên. Mọi người ai cũng vậy. Thật dễ để bảo kẻ tự đầu độc mình bằng a-xít dừng lại hơn là bảo mấy tay nghiện thuốc lá, thậm chí người ta còn hút thuốc thường xuyên. Nếu cậu hỏi tôi, thì nghiện rượu, thuốc lá, cà phê là vấn đề lớn hơn nhiều. Thử hỏi tại sao ma túy thì phi pháp trong khi những thứ đó thì không?”

Phải nói rằng, mấy lời cường điệu cuối bài rao giảng của cô ta khiến tôi tủm tỉm cười một chút. May là cô ta không để ý. Tôi không nghĩ cô ta sai. Cô ta có thể đúng. Nhưng tôi thích cách cô ta bất thần phiêu như vậy. Một lúc sau, cô ta mới bình tĩnh lại và nói tiếp.

“Hừm, tôi đoán thực tế có những loại ma túy làm cậu phụ thuộc về thể chất, đồng thời gây tổn thương cho cơ thể. Về cơ bản, tôi không bán loại đó. Vì thế, tôi không có quan hệ tốt với mấy tên bán Bloodchip (tạm dịch : Huyết mạch). Không quen và cũng không muốn quen.”

“Huyết mạch?” Tôi hỏi. Cô ta gật đầu.

“Tên phổ thông của loại cốc-tai mới. Loại đặc biệt đấy. Hai gói nhỏ trộn với 10 gam cỏ chỉ có giá từng này.” Cô ta nói, giọng rất khoái trá. Rồi cô ta giơ một ngón tay. Một nghìn yên. Các nước khác thường ra giá ma túy cao hơn Nhật Bản chúng ta, nhưng thế này thật điên rồ. Ngay cả một thằng nhóc cấp hai cũng chẳng khó xoay sở để mua thường xuyên.

“Khỉ thật. Ngang giá đồ ăn nhanh à?”

“Đúng, và giá còn giảm nữa. Chúng làm thiên hạ thèm khát nó, rồi hạ giá xuống. Làm thế để làm quỷ gì? Ý tôi, đó là một cách kinh doanh tồi. Thủ đoạn dìm giá bẩn thỉu đó đến cả yakuza cũng không thèm làm. Thứ đó tệ hơn các loại đang lưu hành khác. Có thể có LSD nguyên chất thật, tôi không rõ. Tôi chỉ biết là, nó càng ngày càng phổ biến. Lạ một điều là cậu sẽ dùng trực tiếp qua đường miệng, phải không? Nhưng phê hơn tiêm đấy. Dù vậy, tôi chưa thử bao giờ.”

“Việc này ai cũng biết à?”

“Tất nhiên. Làm ăn buôn bán phải thế chứ. Thật ngạc nhiên vì cậu không biết, vì có vẻ cậu cũng làm ăn tí chút chứ. Do mạng lưới phân phối Huyết mạch chỉ toàn bọn trẻ ranh, nên tôi đoán thông tin không bị phát tán nhiều. Mấy tên bán lẻ cấp thấp thì biết, chứ lão làng thì chẳng thèm quan tâm. Có thể, tất thảy bọn họ đều cho nó là trò con nít ngu ngốc. Chắc đây là lý do bọn cảnh sát chưa đánh hơi thấy. Bọn họ chỉ nhắm đến các băng đảng yazuka lớn, nhưng những kẻ bán lẻ như tôi thì không bao giờ. Bọn tôi quá cao cấp với chúng.” Cô ta lại cười, giọng đầy bỡn cợt và nhạo báng.

Ngược lại, nghe cô ta kể, đầu óc tôi lại tăm tối hơn. Kẻ bán ma túy cho tôi không nói gì về loại mới này. Tôi đã thử sai. Căn cứ vào những điều cô ta nói, vậy hóa ra lại tốt cho tôi.

“Cám ơn cô rất nhiều.” Tôi cảm ơn và đứng dậy. Đến lúc điều tra tiếp rồi.

“Đừng tìm cách rước vạ vào thân đấy. Đầu mối phân phối Huyết mạch nghe đâu là một kẻ rất có thế lực. Ít nhất thì bọn nghiện nghĩ vậy. Tôi đã bảo dạo này làm ăn chán lắm, phải không? Vì tôi là kẻ duy nhất xung quanh đây không bán Huyết mạch. Không hợp với tôi. Nhưng vật đổi sao dời, mọi thứ sắp chuyển sang kỷ nguyên mới đến nơi rồi.” Cô ta cười chua chát. Cô ta chọn ở lại trong kotatsu, trong thời tiết lạnh thế này, kể cả không có lò sưởi điện, chẳng trách được.

Tôi bước qua đống rác và tạp chí vương vãi trên sàn nhà và vặn nắm đấm cửa. Tôi hỏi câu cuối, suýt nữa thì quên, mà chẳng thèm quay đầu lại.

“À, cô có vô tình biết tên kẻ cầm trịch phân phối Huyết mạch không?”

“Ồ, cậu không biết sao?”

Cô ta nói ra cái tên đó. Một câu trả lời hoàn toàn không mong đợi. Trong thoáng chốc, tôi thấy chóng mặt. Nhờ nó, liệu mọi vấn đề sẽ được xâu chuỗi lại ? Tôi cố giữ bình tĩnh, mong cô ta không để ý khắc bất ngờ vửa rồi. Cặp mắt nham hiểm tôi nhìn thấy lúc trước hẳn đã đoán ra, dù không nói gì. Tôi cảm ơn lần nữa, giữ giọng càng bình thản càng tốt, ra ngoài và rời khỏi khu căn hộ bị bỏ hoang, trở về với màn mây xám xịt đang bao phủ thành phố.

-----------

CHÚ THÍCH:

(1) Hai anh em trong truyện cổ Grim, bị bố mẹ bỏ rơi trong rừng, không may lạc vào ngôi nhà bánh kẹo của phù thủy, nhưng trốn thoát được nhờ sự thông minh, nhanh trí của mình.

(2) Là loại bàn sưởi đặc biệt của Nhật Bản, cao từ 35 đến 45 cm, thường làm từ gỗ và dùng để ngồi bệt trong nhà. Cấu tạo: một khung bàn gỗ hình vuông hoặc chữ nhật, một máy sưởi ở giữa khung gỗ, một tấm futon (chăn dày) tháo lắp được, và một mặt bàn đặt lên trên, gắn cố định với khung gỗ phía dưới.

(3) “Mudra”, trong Phật giáo và Ấn Độ giáo, Ấn là một dấu hiệu cơ thể. Thủ ấn chỉ các ấn nơi tay, tương ứng với các nghĩa đặc biệt. Xem thêm vi.wikipedia.org/wiki/Thủ_ấn

Bình luận (0)
Báo cáo bình luận không phù hợp ở đây

0 Bình luận